Ngoại truyện
Từ trước khi Phùng Ngọc chết, trong nhà họ Phùng đã có những lần mẹ chồng con dâu lời qua tiếng lại. Nhưng khi ấy chẳng ai nghĩ những chuyện đó sẽ còn được nhắc lại nhiều năm sau.
Lục Thanh về làm dâu được một thời gian thì đã nhận ra Phùng Tố Lan có tính tích trữ đồ, cái gì cũ cũng không chịu bỏ, mấy chiếc ghế gỗ đã lỏng lẻo, cái tủ mối mọt hay những món vật dụng chẳng còn ai dùng bà vẫn cất kỹ như thể một ngày nào đó chúng sẽ có ích. Có lần Lục Thanh dọn lại gian kho phía sau, định gom mấy món đã mục ra ngoài đốt. Phùng Tố Lan từ trong bếp đi ra thấy vậy liền giằng lấy tay con dâu lại, giọng khó chịu:
“Để nguyên đó, đồ của nhà này chưa đến lượt cô tự tiện quyết định.”
Lục Thanh cũng không phải người chịu nhịn mãi, đặt đống đồ xuống rồi nói: “Mẹ giữ thì cứ giữ nhưng cái nào hỏng rồi thì bỏ đi thôi, để lâu chỉ thêm chật nhà.”
Phùng Tố Lan lập tức chửi xối xả, nhiếc móc rằng kể từ ngày cô về nhà này làm dâu, cái gì cũng thay đổi, từ cách sắp xếp đồ đạc đến nếp sinh hoạt. Phùng Lễ khi ấy đang ở ngoài xưởng, nghe tiếng cãi vả liền chạy vào. Hắn đảo mắt nhìn cả hai rồi xoa dịu, bảo mỗi người bớt một câu.
Phùng Ngọc khi ấy vẫn còn sống. Cô bé mới mười sáu tuổi, tính tình hoạt bát, hay chạy qua xưởng phụ anh trai, chiều chiều thường ra bến nước cũ ngồi hóng gió.
Lục Thanh vốn không thích em chồng xuống đó một mình vì những bậc đá đã trơn, nước lại sâu, từng mấy lần gọi cô về.
Một lần Phùng Ngọc vừa đi từ bến nước về thì gặp chị dâu đứng chờ sẵn ở sân. Lục Thanh nhìn đôi dép ướt của cô bé rồi cau mày hỏi: “Em lại xuống đó nữa à?”
Phùng Ngọc lau tóc, đáp tỉnh bơ: “Em xuống ngồi một chút thôi.”
“Một chút mà lần trước về sốt cả đêm?”
“Em biết chỗ nào nông chỗ nào sâu.”
Lục Thanh càng nghe càng bực: “Biết thì biết nhưng lúc ngã xuống nước rồi thì còn biết gì nữa?”
Phùng Ngọc cũng nổi cáu, gạt đi, bảo chị đừng lúc nào cũng quản mình như quản trẻ con. Phùng Tố Lan từ trong nhà nghe thấy liền bước ra, không hỏi đầu đuôi đã đứng về phía con gái: “Ngọc lớn rồi, nó tự biết mình làm gì.”
Lục Thanh quay sang: “Con cũng chỉ có ý tốt nhắc em ấy đừng xuống một mình thôi.”
Phùng Tố Lan nhếch môi cười nhạt: “Mẹ con tôi sống bao nhiêu năm ở đây chẳng lẽ không biết cái bến nước đó bằng cô?”
Phùng Lễ lúc ấy vừa từ xưởng đi vào, nghe đến câu cuối liền dừng lại: “Mẹ, Thanh nói cũng có lý. Bến đó trơn, Ngọc xuống một mình nguy hiểm thật.”
Phùng Tố Lan lập tức quay sang con trai, giọng đay nghiến: “Con cũng hùa theo bênh vợ con à?” Phùng Lễ thở dài một hơi đầy mệt mỏi kéo ghế cho vợ ngồi rồi mới đáp: “Con nói chuyện nào ra chuyện đó.”
Những lần bất hòa về sau cũng thường xoay quanh Phùng Ngọc.
Lục Thanh muốn cô bé tập trung ở nhà học hành, Phùng Tố Lan lại gạt đi, bảo con gái đã lớn tự biết tính toán tương lai. Có hôm Phùng Ngọc đi chơi đến tối muộn, Phùng Tố Lan quay sang trách ngược Lục Thanh vì “nói nhiều quá làm con bé ngột ngạt”.
Lại có lần cô bé đi bến nước về muộn, gấu quần dính đầy bùn đất. Lục Thanh vừa nhìn thấy đã không kiềm được cơn tức giận: “Em có biết cả nhà lo đến cuống cuồng lên không hả?”
Phùng Ngọc tháo dép ra, hờ hững đáp rằng mình chỉ ngồi hóng gió chứ có làm gì mờ ám đâu. Phùng Tố Lan đứng ngay bên cạnh lập tức nói đỡ: “Nó có phải đứa trẻ ranh nữa đâu mà cô cứ nhăm nhe quản từng bước đi nước bước?”
Phùng Lễ nghe tiếng cãi vã từ ngoài xưởng đến khi vào tận nhà, đến khi thấy cả mẹ lẫn vợ cùng lúc quay sang dán chặt ánh nhìn chờ đợi vào mình, hắn chỉ biết bất lực giơ tay xoa trán.
Những chuyện chẳng lớn lao ấy nhưng tích lại thành từng lớp đến mức mỗi khi Lục Thanh và Phùng Tố Lan chạm mặt nhau, Phùng Lễ gần như luôn là người đứng giữa. A Từ khi đó còn nhỏ, nó chỉ nhớ mỗi lần mẹ và bà nội lời qua tiếng lại, ba nó luôn là kẻ tội nghiệp ở giữa chịu trận còn cô Phùng Ngọc thường lủi vào phòng trước khi người lớn kịp nói thêm.
Rồi Phùng Ngọc chết đuối.
Hôm ấy trời mưa từ gần trưa, nước trong con kênh dâng cao, đến chiều vẫn chưa thấy cô bé trở về. Người trong nhà tỏa đi khắp nơi để tìm. Cuối cùng, người ta chỉ nhặt được đôi dép mắc kẹt ở bậc đá ngay bến nước. Phùng Lễ lặn xuống nước nhiều lần, người trong họ kéo lưới dọc con kênh suốt mấy ngày nhưng thi thể vẫn không được tìm thấy. Đám tang được tổ chức trong căn nhà trống không, không có quan tài, chỉ có tấm ảnh Phùng Ngọc đặt giữa bàn thờ, phía trước là bát nhang lúc nào cũng đỏ lửa. Phùng Tố Lan gần như không bước ra khỏi phòng. Bà ngồi trước tấm ảnh hàng giờ, có khi đang ăn cũng dừng lại giữa chừng, ánh mắt đờ đẫn dán chặt vào chiếc ghế trống bên cạnh như thể chỉ cần chờ thêm một lúc, cô con gái sẽ từ ngoài cửa bước vào gọi mẹ.
Một buổi chiều, Lục Thanh mang lên phòng mẹ chồng một đĩa lê vừa mới mua. Cô nhẹ nhàng đặt xuống bàn gỗ rồi cất tiếng: “Con thấy lê hôm nay ngọt nên mua cho mẹ.”
Phùng Tố Lan cầm một miếng lên, lơ đãng xoay vài vòng trong tay. “Ngọc cũng thích ăn lê lắm.”
Lục Thanh ngồi xuống bên cạnh, nhìn quả lê rồi khẽ đáp: “Hồi trước em ấy hay lấy quả ngon để dành cho A Từ.”
Phùng Tố Lan nghe vậy liền trầm ngâm kể lại chuyện ngày xưa, Phùng Ngọc ngày trước cứ chiều tối là ôm đĩa trái cây ra hiên, vừa ăn vừa chờ anh trai tan xưởng. Bà kể có những hôm trời tối vẫn chưa thấy Phùng Ngọc về thì cô bé sẽ ngồi co chân trên chiếc ghế đẩu ngoài cửa, đợi Phùng Lễ dẫn mình vào nhà.
Lục Thanh nghe một lúc cũng gật đầu: “Em ấy đúng là thích ngồi ngoài hiên.”
Phùng Tố Lan nhìn quả lê trong tay rồi bảo:
“Nó còn thích xuống bến nước.”
“Vâng ạ.”
Bà đột ngột ngẩng đầu lên, ánh mắt đục ngầu găm thẳng vào con dâu: “Cô còn nhớ hôm đó không?” Lục Thanh biết bà đang nói chuyện gì, giọng thấp xuống: “Con nhớ.”
Phùng Tố Lan đặt quả lê xuống. “Hôm đó, cô nói nó cứ xuống đó thì có ngày chết đuối.”
Lục Thanh ngồi chết dí tại chỗ mấy giây, sống lưng lạnh ngắt rồi mới cay đắng đáp: “Lúc đó con chỉ nói lúc nóng giận, con cũng đâu có muốn em ấy chết.”
Phùng Tố Lan dán ánh mắt lạnh lẽo vào cô. “Tôi biết cô muốn trù cho nó chết thật để cho lời cô nói luôn luôn đúng.”
Lục Thanh mím môi, một lúc sau mới nói: “Mẹ muốn con phải làm sao?”
Phùng Tố Lan đáp rất nhỏ: “Tôi chỉ muốn cô đừng quên câu đó.”
Lục Thanh nhìn mẹ chồng một lúc lâu, ánh mắt đong đầy sự bất lực lẫn xót xa.
Từ hôm ấy, câu nói gieo rắc về cái chết dưới bến nước bắt đầu xuất hiện trong những lời Phùng Tố Lan rủ rỉ bên tai A Từ.
Ban đầu, đó chỉ là một câu hỏi bâng quơ giữa bữa cơm tối:
“Con còn nhớ mẹ con từng nói câu gì với cô Ngọc trước ngày cô mất không?”
“Mẹ bảo cô đừng mò xuống bến nước nữa ạ.”
Phùng Tố Lan dán ánh mắt thâm trầm nhìn nó: “Thế còn câu sau?”
Thằng bé ngẫm nghĩ một chốc rồi ngây ngô đáp: “… Có ngày chết đuối”
Bà gắp thêm một miếng thức ăn đặt vào bát nó hạ giọng mềm mỏng: “Ừ, ăn đi con.”
Vài ngày sau, trời lại đổ mưa dầm dề. Lúc khép lại ô cửa sổ lồng lộng gió lạnh, bà thở dài: “Mỗi lần mưa thế này, bà lại nhớ hôm đó … Cả nhà cuống cuồng chạy đi tìm, còn câu nói ấy của mẹ con cứ bám chặt lấy đầu óc bà, không cách nào xua đi được.”
A Từ ngoan ngoãn tiến lại kéo tiếp cánh cửa phụ giúp bà, tò mò hỏi: “Bà nghĩ mẹ nói thật sao ạ?”
Phùng Tố Lan điềm nhiên đáp: “Đúng rồi, con còn nhỏ nên không biết, người ta lúc nóng giận mới thốt ra những điều giấu kín trong lòng.”
“Nhưng mẹ con đâu có ghét cô đâu ạ?”
Bà cài nhẹ cái then cửa gỗ rồi mới xoa đầu nó: “Con còn nhỏ quá, chuyện sâu xa của người lớn làm sao con nhìn thấu hết được.”
Một bận khác, khi hai bà cháu ngồi ngoài hiên nhặt đậu, bà lại hỏi A Từ có thấy dạo này ba nó ít cười hẳn đi không. Thằng bé thật thà bảo vì ba phải làm việc vất vả ngoài xưởng. Phùng Tố Lan vừa nhặt từng hạt đậu vừa thì thào: “Ngày trước ba con có làm lụng cả ngày thì tối về vẫn còn chơi đùa với cô Ngọc. Còn bây giờ, bước chân về đến nhà là chỉ toàn lo gánh nặng chuyện vợ con.”
“Tại ba thương mẹ mà bà.”
Bà nhếch môi cười chua chát: “Ừ … có thương thì mới phải chịu khổ đứng ở giữa hai bên mãi như thế.”
Mỗi bận nhìn thấy chiếc áo cũ của Phùng Ngọc, bà lại nhắc về thời con gái mình còn sống. Mỗi lần Lục Thanh cùng Phùng Lễ lời qua tiếng lại, bà lại thở dài than thở căn nhà ngày xưa nhờ có con Ngọc nên mới không đến nông nỗi này. Có bận A Từ đang lôi chiếc xe gỗ hỏng ra hí ngoáy sửa, bà ngồi ngay bên cạnh, thì thầm hỏi: “Con thấy mẹ con có nhớ cô Ngọc không?”
“Có chứ bà.”
“Thế con thấy mẹ con nhớ thế nào?”
“Mẹ vẫn thắp hương cho cô mỗi ngày mà.”
Phùng Tố Lan nhìn xoáy vào nó một lúc lâu, rồi hạ giọng bí hiểm: “Thắp hương là chuyện phải làm thôi. Còn bà … bà muốn con Ngọc được trở về nhà.”
A Từ dừng lại, giương mắt hỏi: “Cô Ngọc … về lại được hả bà?”
Bà gật đầu một cách chắc chắn.
Một hôm khác, bà lại thủ thỉ: “Nếu người chết thực sự muốn trở về thì người sống có phải nhường chỗ không con?”
A Từ ngơ ngác nhìn bà, ngập ngừng hỏi: “Nhường chỗ … là nhường ở đâu ạ?”
“Nhường ở trong căn nhà này.”
Thằng bé cúi đầu, lặng lẽ lắp tiếp chiếc bánh xe gỗ còn dở dang: “Con … con không biết.”
Phùng Tố Lan vỗ nhẹ lên vai nó, buông một câu lạnh ngắt: “Rồi sau này con sẽ hiểu.”
Phùng Tố Lan chẳng bao giờ cần bắt A Từ phải trả lời đúng theo ý mình. Mọi bận nó buông một câu lấp lửng nước đôi, bà lại tự biết cách suy diễn theo đúng hướng mà mình thèm khát. Nó hỏi vì sao cô Ngọc chết lại không có xác, bà lập tức cho rằng nó đang thương xót cô. Nó hỏi vì sao mẹ lại phải rời đi, bà lại đinh ninh rằng đứa cháu nhỏ đã bắt đầu thấu hiểu nỗi đau đơn của mình. Khi bà rủ rỉ nhắc đến chuyện đổi mệnh mà nó chỉ im lặng không phản bác, bà lại càng tin sái cổ rằng những ý định mình gieo rắc bấy lâu nay đã hoàn toàn kết trái.
Đến cả những lúc A Từ xua tay bảo: “Con không biết đâu” hay “Con chỉ hỏi bâng quơ thôi mà”, bà cũng chẳng buồn để tâm. Bởi lẽ trong mắt một kẻ đã chìm quá sâu vào u mê, chỉ cần một đứa trẻ chịu ngồi im lắng nghe mình trút bỏ nỗi niềm, chừng đó đã là quá đủ để coi nó như một kẻ đồng mưu đứng về phía mình.
Đến khi Lục Thanh phải nhập viện sau một cơn choáng váng bất ngờ, Phùng Tố Lan mới bắt đầu cho A Từ tận mắt nhìn thấy thứ bà đã âm thầm chuẩn bị bấy lâu.
Tối đó, bà chốt chặt cửa phòng u tối, kéo chiếc túi vải màu xanh đã sờn mép ra khỏi ngăn tủ rồi tỉ mẩn gỡ nút buộc. Bên trong là một tờ giấy vàng úa ghi nắn nót họ tên cùng ngày sinh tháng đẻ của Lục Thanh, đi kèm một hình nhân bằng vải thô cao chừng một gang tay, quanh eo quấn chặt ba vòng chỉ đỏ huyết.
A Từ đăm đăm nhìn những tà vật đó, cất tiếng hỏi: “Bà làm gì vậy ạ?”
Phùng Tố Lan miết ngón tay nhăn nheo lên tờ giấy vàng: “Đưa cô Ngọc con về.”
“Gọi về … bằng cái này ạ?”
“Ừ.”
Bà lấy thêm một đoạn chỉ đỏ đặt cạnh chiếc hình nhân vải, hạ giọng: “Vẫn còn thiếu một thứ …”
A Từ dán ánh mắt trong veo vào bà: “Sợi dây chuyền của mẹ phải không bà?”
Bà gật đầu: “Cháu ngoan lấy cho bà nhé.”
“Để làm gì ạ?”
“Để xác định đúng người.”
Nói xong, bà lại thì thầm nhắc lại những năm tháng tăm tối kể từ sau ngày Phùng Ngọc chết đuối. Bà nhắc về căn nhà lúc nào cũng trống trải, về việc ba nó luôn phải oằn mình đứng giữa hai bờ mâu thuẫn, về việc Lục Thanh từng buông câu trù ẻo rồi Phùng Ngọc thật sự phải nằm lại dưới lòng sông lạnh.
“Con thử ngẫm mà xem …” Bà rủ rỉ, giọng như ma xui quỷ khiến “ … cô Ngọc của con còn trẻ như thế, đáng lẽ nó phải được hưởng một cuộc đời khác. Nó đáng lẽ vẫn phải ở đây, lấy chồng, sinh con. Người gánh nạn là nó còn mẹ con vẫn được tận hưởng cuộc sống”.
A Từ khẽ hỏi: “Nghĩa là … mẹ phải đi ạ?”
“Ừ.”
“Ba có biết chuyện này không bà?”
“Không.”
“Mẹ có biết không?”
“Càng không.
“Nhưng … nếu mẹ không chết thì sao ạ?”
Bà nhìn xoáy vào đôi mắt thằng bé:
“Thì cô Ngọc sẽ vĩnh viễn không về được.”
“Bà chắc chắn chứ?”
“Ừ, bà chắc.”
A Từ cúi đầu, lặng lẽ dán ánh nhìn lạnh ngắt vào chiếc hình nhân vải. Nó hỏi một câu hờ hững:
“Bà từng làm chuyện này bao giờ chưa?”
“Chưa.”
“Vậy sao bà lại chắc chắn như thế?”
Phùng Tố Lan đưa bàn tay gầy guộc vuốt nhẹ mái đầu cháu trai, giọng dịu đi: “Có những chuyện người trong nhà phải tin nhau chứ con.”
“Bà không bảo con phải ghét mẹ” bà thì thầm, giọng đều đều như chuốc thuốc mê “con vẫn cứ thương mẹ như bình thường. Bà chỉ cần con đừng ngăn cản việc của bà.”
A Từ nhìn bà. “Nếu con không chịu giúp thì sao?”
“Bà vẫn sẽ làm.”
“Vậy sao bà lại cần tới con?”
Phùng Tố Lan mỉm cười dịu dàng, dịu dàng đến rợn người, rồi đặt bàn tay gầy guộc khô ráp lên đỉnh đầu nó.
“Vì bà tin con.”
A Từ im lặng một thoáng, rồi cất tiếng hỏi, giọng bình thản đến lạ kỳ: “Chừng nào hả bà?”
“Đêm hôm kia.”
Thằng bé khẽ gật đầu, buông một tiếng đáp nhẹ hẫng: “Dạ.”
Đêm đó, A Từ lặng lẽ lấy sợi dây chuyền của Lục Thanh rồi mang xuống đưa cho bà. Phùng Tố Lan cất món đồ vào chiếc túi vải xanh cùng mảnh giấy vàng và hình nhân. Bà buộc nút thật chặt rồi âu yếm xoa đầu đứa cháu trai. thì thầm rằng nó là đứa cháu ngoan ngoãn và hiểu chuyện nhất cái nhà này.
A Từ chỉ thản nhiên hỏi: “Bao giờ bà cháu mình ra bến nước ạ?”
Phùng Tố Lan dán ánh nhìn ra ngoài cửa sổ: “Ngay bây giờ.”
Khi hai bà cháu lặng lẽ lẻn vòng ra sau nhà, tiến gần về phía cái hồ nhỏ dùng để tưới cây, nơi bao quanh bởi những gốc liễu già xơ xác và bờ đá thấp bám đầy rêu mục. A Từ đã âm thầm chuẩn bị xong bước đi của riêng mình.
A Từ đưa chai nước cho bà. “Bà uống đi ạ, con thấy bà hơi mệt.”
Phùng Tố Lan nhận lấy, uống một hơi dài rồi đưa lại cho A Từ. Sau đó A Từ lại ngoan ngoãn tiến đến bên cạnh, rủ rỉ hỏi lại từng chi tiết của nghi thức sắp sửa diễn ra. Giữa không gian u tối ngập tràn tiếng gió lùa qua rặng liễu, hai bà cháu thì thào nói về ngày mai, về Phùng Ngọc, về việc cô của nó rốt cuộc cũng sắp sửa được quay trở về mái nhà xưa. Phùng Tố Lan say sưa thì thầm, giọng điệu mê muội, đờ đẫn đến mức dường như đã tận mắt nhìn thấy bóng hình con gái đứng chờ ngay trước ngưỡng cửa. Còn A Từ chỉ lặng lẽ thỉnh thoảng lại nhẹ nhàng cất tiếng “Dạ” ngoan ngoãn.
Chỉ một lúc sau, sắc mặt Phùng Tố Lan bắt đầu biến đổi dữ dội.
Bàn tay gầy guộc đang chống trên đầu gối bỗng siết chặt lấy thắt lưng, bờ môi run giật liên hồi, hơi thở dồn dập rồi trở nên đứt quãng, nặng nhọc. Cái chai nước vuột khỏi tay A Từ, lăn lông lốc xuống bãi cỏ đẫm sương đêm.
A Từ lạnh lẽo dán ánh mắt đen láy nhìn bà rồi lại liếc xuống chiếc chai rỗng dưới chân. Khi Phùng Tố Lan gượng sức định chồm đứng dậy, nó liền vươn tay chộp lấy, giữ chặt lấy cánh tay bà. Cơn nôn ập tới khiến toàn thân bà gập đôi lại. Một chất dịch đen lẫn máu tươi trào mạnh ra khỏi miệng.
A Từ đưa tay bịt chặt miệng bà, dùng toàn bộ sức giữ chặt bà xuống bãi cỏ.
Phùng Tố Lan mở to mắt nhìn cháu, hai tay quờ quạng nắm lấy cổ tay nó nhưng luồng sinh khí trong cơ thể bà nhanh chóng suy kiệt và yếu dần. Những âm thanh nghẹn lại trong cổ họng bị bàn tay A Từ chặn kín, chỉ còn tiếng thở khò khè lọt ra giữa những kẽ ngón. Mắt nó đỏ hoe, nước mắt cứ trào ra nhưng bàn tay vẫn không buông.
Nó ghé sát mặt bà, giọng run lên bần bật, từng câu chữ thốt ra nghẹn ngào xen giữa tiếng thở dốc: “Tại sao bà cứ phải nhất quyết giết mẹ con? Mẹ làm gì có lỗi với nhà này? Bà nói đi … mẹ làm gì có lỗi với bà?”
Phùng Tố Lan đờ đẫn nhìn đứa cháu ruột, đôi mắt hoảng loạn đến tột cùng. A Từ vẫn giữ chặt tay.
“Bà cứ nói mẹ xấu xa, nói mẹ xui xẻo, nói cô Ngọc không về được là bị mẹ nguyền rủa” Giọng nó nghẹn ngào “Nhưng cô Ngọc chết là vì cô ấy tự xuống đó. Ai cũng cản rồi. Bà muốn gặp cô thì người nên đi với cô là bà … Tại sao lại là mẹ con chứ?”
Nó nhìn bà, nước mắt vẫn chảy rồi cúi thấp hơn: “Bà muốn cô về đến thế à? Vậy bà tự đi tìm cô đi.”
Phùng Tố Lan giãy giụa một lần cuối cùng, các ngón tay quờ quạng bấu chặt lấy cổ tay A Từ dần buông thõng. Đôi mắt vẫn nhìn chằm chằm vào gương mặt đứa cháu trước mặt mình.
Đến khi chắc chắn bà không còn cử động, nó mới từ từ buông ra.
Nó ngồi xổm trước thi thể bà rất lâu, nhìn bàn tay mình dính đầy máu rồi cúi xuống lau vào vạt áo. Nó kéo lê bà vào phía sau hàng liễu. Bộ quần áo trên người bà đã dính bẩn, A Từ lấy bộ đồ sạch đã âm thầm chuẩn bị mang theo từ trước ra, cẩn trọng thay lại cho bà. Nó lấy khăn lau sạch khuôn mặt dính máu của bà, vuốt lại mái tóc bạc rối. Đến khi mọi thứ trông giống như một người già chỉ vừa chợp mắt ngủ quên, nó mới bình thản đứng dậy.
A Từ cúi xuống nhặt chiếc túi vải xanh đang rơi cách đó không xa rồi mang lại gần thi thể Phùng Tố Lan. Trong túi có sợi dây chuyền của Lục Thanh, mảnh giấy vàng ghi họ tên, ngày sinh tháng đẻ của cô và hình nhân bằng vải thô quanh eo quấn ba vòng chỉ đỏ.
Tờ giấy vàng ghi tên Lục Thanh được nó cẩn thận cất lại, sợi dây chuyền của mẹ cũng được đặt sang một bên. Sau đó, nó nhẹ nhàng tháo chiếc vòng bạc cũ kĩ mà Phùng Tố Lan vẫn thường đeo nơi cổ tay, đặt thế vào vị trí của sợi dây chuyền, đồng thời tráo mảnh giấy vàng thành một tờ khác do chính tay nó đã tỉ mẩn chép sẵn họ tên cùng ngày sinh tháng đẻ của Phùng Tố Lan. Chiếc hình nhân vải cùng đoạn chỉ đỏ vẫn được giữ nguyên.
Sau đó nó cầm túi chạy thẳng về phía bến nước cũ. Con đường từ mé hồ ra đến bến nước không xa nhưng quanh co qua mấy vườn dâu xơ xác, đôi chân thiếu niên liên tục trượt trên nền đất. Trong đầu nó chỉ còn chuyện phải làm cho xong nghi thức trước khi trời sáng hẳn.
A Từ bắt đầu làm nghi thức theo những gì Phùng Tố Lan từng dạy. Nó đặt chiếc vòng bạc của Phùng Tố Lan xuống, đặt mảnh giấy ghi tên Phùng Tố Lan bên cạnh hình nhân rồi kéo sợi chỉ đỏ qua những chỗ bà đã từng chỉ cho nó. Từng động tác đều thực hiện vô cùng chậm rãi, tỉ mẩn, tuyệt nhiên không có vẻ hoảng loạn một đứa trẻ vừa phạm phải trọng tội.
Từng bước một, nó bình thản đưa nghi thức đi vào phần đầu tiên, phần dùng để dẫn linh hồn người chết về bến nước. Gió từ mặt hồ thổi vào mang theo mùi bùn đất và rong rêu tanh nồng. Mặt nước dưới những bậc đá phủ rêu liên tục gợn lên từng vòng sóng nhỏ đập vào bờ. Đến khi cái tên Phùng Tố Lan được cất lên trơn tru, ngọn đèn dầu trước mặt bỗng chao mạnh. Ánh sáng vàng nhạt hắt xuống mặt nước đang chuyển dần sang một màu tối đục.
A Từ biết phần thứ nhất đã hoàn tất. Linh hồn của Phùng Tố Lan đã bị dẫn xuống bến nước.
Nhưng nghi thức này vốn còn một nửa. Sau khi đưa linh hồn người sống vào chỗ của người chết thì phải tiếp tục mở đường để gọi linh hồn Phùng Ngọc trở về. Đó mới là phần mà Phùng Tố Lan mong chờ suốt bao nhiêu năm. A Từ đứng lặng ở đó, đăm đăm nhìn những vòng sóng đập nhẹ dưới chân rồi dứt khoát dừng tay.
Nó không đọc tiếp văn khấn, không gọi tên Phùng Ngọc cũng không hoàn tất nốt phần cuối cùng.
Phùng Tố Lan đã bị đưa vào bến nước nhưng Phùng Ngọc chưa được gọi trở lại. Một người không thể rời đi, một người cũng không thể trở về, hai linh hồn cứ thế mắc kẹt ở chính nơi mà bà cụ đã tin rằng mình có thể dùng để nối lại người sống với người chết.
A Từ cúi xuống thu những thứ còn lại, ánh mắt dừng trên mặt hồ đen ngòm. Nó nghĩ đến lời bà nói suốt bao năm rằng Phùng Ngọc vẫn đang chờ dưới đó.
“Bà muốn gặp cô mà.”
Nó đứng dậy.
“Vậy thì cứ ở đó với cô đi.”
A Từ nhìn mặt nước thêm lần cuối, khóe môi cong lên rất nhẹ rồi nói: “Con chúc mừng bà. Cuối cùng bà cũng được ở bên con gái của mình mãi mãi rồi.”
Sau đó, nó quay người chạy về phía mé hồ, nơi thi thể Phùng Tố Lan vẫn nằm dưới hàng liễu, bộ quần áo đã được thay sạch sẽ, gương mặt quay nghiêng về phía mặt nước. A Từ cúi người xuống, luồn hai tay qua người bà, cố sức kéo bà lên lưng.
Lúc này trời đã bắt đầu mờ mờ sáng, A Từ cúi đầu, siết chặt hai tay rồi cõng bà về phía cửa sau.
Nó đưa bà vào thẳng gian bếp.
Nó đỡ bà nằm xuống cạnh chiếc bàn gỗ cũ, để nguyên tư thế ấy rồi nhanh chân chạy thẳng lên lầu. Vào đến phòng mình, nó vội vàng cởi bỏ bộ quần áo dính bùn đất, lau mặt mũi và rửa sạch hai bàn tay rồi lập tức sang phòng Phùng Tố Lan.
Nó lấy toàn bộ sợi dây chuyền và mảnh giấy ghi họ tên, ngày tháng năm sinh của Lục Thanh, hình nhân vải và cuộn chỉ đỏ nhét gọn vào một túi vải xanh. Cuối cùng, nó khóa chiếc túi vải vào ngăn tủ cuối cùng rồi rút chìa khóa nhét vào túi áo. Trước khi rời khỏi phòng, A Từ mở tủ thuốc gia đình, lấy đúng lọ thuốc huyết áp mà Phùng Tố Lan vẫn uống hàng ngày mang theo.
Nó quay xuống bếp, đứng dán mắt nhìn thi thể bà nằm bên cạnh chiếc bàn một lần nữa. A Từ tiến lại gần, bình thản rải những viên thuốc xung quanh rồi đặt lọ thuốc vào vị trí dễ thấy nhất ngay bên cạnh, tạo nên hiện trường tự nhiên như một người bỗng nhiên lên cơn huyết áp, ngã gục xuống mà không kịp với tay lấy thuốc.
Ánh đèn mù mờ hắt lên gương mặt bà. Nó ngồi xổm xuống bên cạnh, nhẹ nhàng đưa tay gạt mấy sợi tóc rối trên trán bà. Đôi mắt nó lại đỏ hoe. Nó nhìn bà rất lâu rồi khẽ thì thầm: “Con ước được gặp lại bà.”
Nó đứng quan sát thêm vài giây, cẩn thận chỉnh lại vài đồ đạc xung quanh cho hoàn toàn tự nhiên rồi mới quay trở lên phòng ngủ.
Nó thay quần áo ngủ rồi lặng lẽ nằm xuống giường. Căn phòng chìm trong bóng tối, chỉ còn một vệt sáng mỏng manh hắt từ khung cửa sổ. Nó thao thức xoay người sang bên này rồi lại sang bên kia, kéo chiếc chăn lên ngang bụng, hai mắt nhắm chặt nhưng không tài nào ngủ được.
Trong đầu nó cứ liên tục nhớ lại hình ảnh bà nội, bàn tay từng xoa đầu nó, giọng nói kéo dài qua những tháng ngày nhắc về Phùng Ngọc, về mẹ nó, về chính nó. A Từ đưa cánh tay che ngang mắt, nằm yên trút từng nhịp thở nặng trịch. Một giọt nước mắt chậm rãi trượt khỏi khóe mắt, đi qua thái dương rồi thấm xuống một bên gối.
Sau đám tang, khi mọi người lên phòng ngủ, A Từ lại một mình đi xuống bếp. Nó lấy một chiếc bát, xới một phần cơm đầy rồi đặt ở cuối bàn. Sau đó nó kéo chiếc ghế bà nội thường ngồi ra, lấy khăn lau mặt ghế thật sạch rồi đẩy trở lại đúng vị trí.
Và rồi một đêm nọ, khi cả căn nhà đã chìm sâu trong tĩnh mịch, từ phía chiếc ghế trống nơi cuối bàn bỗng vọng lên một giọng nói già nua, khàn đặc như vừa ngoi lên từ dưới nước.
“A Từ, bà quay về ăn cơm với con đây.”