Chương 3: Người không có tên
Sáng hôm sau, chúng tôi rời nhà họ Thẩm từ khá sớm. Tần Như Ngọc là cái tên duy nhất còn lại trong tập giấy cũ nhưng ngoài cái tên ấy ra thì chẳng có thêm thông tin gì đáng kể. Hoài An phải mất gần cả buổi sáng mới hỏi được địa chỉ cũ của bà từ một người từng làm việc cho nhà họ Thẩm. Địa chỉ nằm ở một thị trấn nhỏ cách Tô Châu không xa, căn nhà đã đổi chủ mấy lần, cuối cùng mới lần ra được nơi bà đang sống. Trên đường đi, tôi hỏi Hoài An liệu hắn có nghĩ người áo đỏ trong gương thật sự là Tần Như Ngọc hay không. Hắn bảo chưa chắc. Tôi hỏi vậy tại sao vẫn phải tìm, hắn nhìn ra ngoài cửa sổ, một lúc sau mới nói: “Bởi vì trong chuyện này, có những người biến mất khỏi giấy tờ nhưng lại không biến mất khỏi cuộc đời.” Tôi nghe xong không hiểu lắm nhưng cũng không hỏi thêm. Từ hôm qua đến giờ, càng hỏi nhiều, tôi càng phát hiện mình chẳng hiểu thêm được bao nhiêu.
Căn nhà của Tần Như Ngọc nằm cuối một con ngõ hẹp, phía trước có một cây hòe già, dưới gốc cây đặt mấy chậu hoa đã khô. Người ra mở cửa là một phụ nữ trung niên. Nghe Hoài An nói muốn gặp Tần Như Ngọc, bà ta nhìn chúng tôi khá lâu rồi hỏi: “Các cậu từ đâu tới?” Hoài An chỉ nói mình từ nhà họ Thẩm ở Tô Châu đến. Sắc mặt người phụ nữ lập tức thay đổi. Bà không hỏi thêm nữa, chỉ nghiêng người tránh sang một bên, nói: “Bà ấy ở trong phòng.”
Tần Như Ngọc đã hơn chín mươi tuổi, bà ngồi bên cửa sổ, lưng hơi còng, tóc bạc gần như hoàn toàn, trên người mặc một chiếc áo vải màu nâu nhạt. Căn phòng rất yên, chỉ có một chiếc đồng hồ cũ trên tường thỉnh thoảng phát ra tiếng tích tắc. Khi nghe người phụ nữ nói có người nhà họ Thẩm đến tìm, bà không quay lại ngay. Một lúc sau, bà mới hỏi: “Nhà họ Thẩm nào?”
Hoài An đáp: “Nhà họ Thẩm ở Tô Châu.”
Bàn tay đang đặt trên đầu gối của bà khẽ siết lại. Bà quay đầu nhìn chúng tôi. Ánh mắt ấy không có vẻ ngạc nhiên, cũng không giống một người lâu năm không gặp người quen. Nó giống như một người đã đợi một chuyện nào đó rất lâu, đến mức khi chuyện thật sự xảy ra thì chỉ còn lại sự mệt mỏi.
“Cuối cùng họ cũng tìm tới đây.”
Tôi nhìn Hoài An. Hắn không nói gì, chỉ kéo ghế ngồi xuống đối diện bà.
“Bà biết chúng tôi tìm chuyện gì?”
“Chiếc gương.”
Bà nói rất nhẹ.
“Và Vân Chi.”
Căn phòng im lặng.
Tôi vốn nghĩ bà sẽ phủ nhận nhưng bà chỉ đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. Một lúc lâu sau, bà hỏi: “Cô ấy còn ở đó không?”
Tôi không biết phải trả lời thế nào. Hoài An hỏi lại: “Bà đang nói Vân Chi?”
Bà cười rất nhạt.
“Các cậu vẫn gọi cô ấy bằng cái tên đó sao?”
Tôi nghe câu ấy thì hơi khựng lại. Hoài An cũng im lặng vài giây rồi hỏi: “Bà tên là Tần Như Ngọc?”
Bà gật đầu.
“Nhưng đã rất lâu rồi không ai gọi tôi như vậy.”
“Vậy mọi người gọi bà là gì?”
Bà nhìn chúng tôi, đáp:
“Vân Chi.”
Tôi không biết mình đã ngồi im bao lâu. Hoài An cũng không tỏ ra bất ngờ như tôi nhưng ánh mắt hắn thay đổi rất rõ. Hắn hỏi: “Bà biết mình không phải Vân Chi?”
“Biết.”
“Vậy tại sao vẫn để họ gọi như thế?”
Bà cúi đầu nhìn đôi tay đã đầy nếp nhăn của mình.
“Bởi vì lúc đầu tôi không có quyền lựa chọn.” Căn phòng lập tức im hẳn. Tôi cứ tưởng mình nghe nhầm nên nhìn bà thêm lần nữa nhưng bà vẫn bình thản như thể vừa nói một chuyện hết sức bình thường. Bà nói con cháu gọi bà là Vân Chi, người trong nhà cũng gọi bà là Vân Chi, chỉ có bà biết mình không phải Vân Chi.
Bà đưa mắt về phía chiếc ấm trà trên bàn, ngón tay chậm rãi miết quanh miệng chén như đang lần lại một chuyện đã cũ đến mức mỗi chi tiết đều đã nằm sâu trong trí nhớ. Những lời sau đó được bà kể rất chậm.
“Vân Chi có một người thương.”
Tôi hơi bất ngờ. Như Ngọc nói người đàn ông ấy là con trai trưởng của nhà họ Thẩm, cũng là anh cả của Thẩm Kính Sơn. Hai người quen nhau từ những ngày anh ta còn thường xuyên trở về nhà, ban đầu chỉ là vài lần gặp nhau sau gian nhà phía đông, rồi chẳng biết từ lúc nào thành quen. Anh ta hay đứng ngoài sân đợi Vân Chi đàn xong, có khi mang cho cô một gói điểm tâm, có khi chẳng mang gì cả, chỉ ngồi nói chuyện với cô một lúc rồi mới đi. Những chuyện như vậy vốn chẳng phải cứ được định sẵn là có thể ngăn được. Hai người vẫn tìm cách gặp nhau, có khi chỉ ngồi dưới mái hiên nghe mưa, có khi anh ta đứng ngoài sân đợi cô đàn xong rồi mới lén nói với cô vài câu.
“Anh ấy định đưa cô ấy đi?”
“Ừ.”
Như Ngọc gật đầu.
“Vân Chi từng nói với tôi, chỉ cần rời khỏi nhà họ Thẩm thì sống ở đâu cũng được. Cô ấy không cần tiền cũng không cần một cuộc sống sung túc. Cô ấy chỉ muốn ở bên anh ấy.”
Tôi nhớ lại hình ảnh người phụ nữ áo xanh trong gương, ngồi bên cửa sổ với cây tỳ bà trên đầu gối. Khi ấy tôi vẫn không hiểu tại sao một người như cô lại xuất hiện trong chiếc gương ấy nhiều đến vậy. Bây giờ nghĩ lại, có lẽ cô đã từng ngồi ở đó rất nhiều lần, chờ một người mà cô biết sẽ trở về.
Như Ngọc kể rằng anh cả của Thẩm Kính Sơn cũng biết trong nhà có một chuyện cũ mà cha mình nhất quyết không cho ai nhắc đến. Nhiều năm trước, một người phụ nữ từng đến nhà họ Thẩm rồi không bao giờ trở về. Bên ngoài nói cô ta đã rời đi nhưng người trong nhà biết cô đã chết. Người biết rõ chuyện ấy nhất là ông Lục, một người làm cũ đã ở nhà họ Thẩm từ rất lâu. Ông giữ lại một quyển sổ ghi những khoản tiền và những chuyện xảy ra trong nhà, ban đầu chỉ để tự bảo vệ mình nhưng về sau nó trở thành thứ khiến ông không thể rời khỏi nhà họ Thẩm một cách dễ dàng.
Anh cả của Thẩm Kính Sơn tìm thấy cuốn sổ ấy. Anh bắt đầu hỏi lại những chuyện xảy ra năm xưa rồi dần nhận ra cha mình có liên quan đến cái chết của người phụ nữ kia. Vân Chi không biết anh đã biết đến đâu, chỉ biết trước khi xảy ra chuyện, anh từng nói với cô rằng có những chuyện nếu đã biết thì không thể giả vờ như chưa từng biết. Anh nói sẽ đưa Vân Chi rời khỏi nhà họ Thẩm và sẽ cùng cô nói rõ mọi chuyện với người bên ngoài. Hai người định đi vào một ngày mưa, khi trong nhà có khách và mọi người đều bận. Vân Chi đã chuẩn bị sẵn vài bộ quần áo, giấu trong một chiếc túi nhỏ. Cô còn đem theo cây trâm bạc vẫn thường cài trên tóc, bởi cô nghĩ những thứ khác có thể bỏ lại nhưng món đồ ấy thì muốn mang theo.
“Rồi anh ấy chết?”
Như Ngọc gật đầu.
“Trước ngày họ định rời đi.”
Nhà họ Thẩm nói anh gặp tai nạn trên đường. Nhưng Vân Chi không tin. Trước khi đi, anh đã để lại cho cô một lời nhắn không dài, chỉ bảo cô đừng nói gì cả, đừng tìm cách trả thù, cũng đừng để người trong nhà biết cô đang giữ cuốn sổ.
“Cô ấy giữ thứ gì?”
“Không biết, không còn nữa.”
Như Ngọc nói.
“Cô ấy đã đốt nó.”
“Vì sao?”
“Bởi vì người ấy chết rồi.”
Bà nhìn xuống đôi tay mình.
“Sau khi anh ấy chết, cô ấy không còn muốn sống nữa.”
Như Ngọc nhìn hắn.
“Đúng.”
Tôi im lặng. Hoài An cũng không hỏi ngay. Một lúc sau hắn mới nói: “Nhưng nhà họ Thẩm vẫn không để cô ấy chết theo cách cô ấy muốn.”
Cô biết mình không còn ai để chờ. Người cô muốn cùng mình rời đi đã chết, còn bí mật cô biết đủ để khiến nhà họ Thẩm không thể để cô tự do rời khỏi nơi đó. Nhưng nếu giết cô ngay, những người từng quen Vân Chi sẽ hỏi. Cô đã sống ở nhà họ Thẩm nhiều năm, từng đàn tỳ bà cho khách, từng xuất hiện trong những buổi tiệc, từng được người quanh khu vực biết mặt. Một người như vậy không thể đột nhiên biến mất mà không để lại câu hỏi.
Cho nên nhà họ Thẩm không nói cô chết.
Họ nói cô được đưa đi nơi khác.
Nhưng chỉ nói như vậy vẫn chưa đủ. Nếu người ngoài thỉnh thoảng hỏi Vân Chi đâu, trong nhà vẫn phải có một người có thể tiếp tục xuất hiện dưới cái tên ấy.
Vì vậy Như Ngọc được đưa tới. Nhà họ Thẩm cần một người ở lại, một người có thể xuất hiện trước mặt khách, có thể ngồi ở gian phía đông, có thể mặc những bộ quần áo Vân Chi từng mặc và để người khác tiếp tục gọi cái tên ấy mà không phải giải thích thêm. Như Ngọc được chọn vì lúc đó bà đang làm việc trong nhà, biết rõ sinh hoạt của Vân Chi hơn những người khác, lại không có người thân ở Tô Châu để có thể đứng ra hỏi han hay tìm đến nhà họ Thẩm. Bà cũng có vóc người gần giống Vân Chi, từ phía sau hoặc trong những lần gặp thoáng qua rất khó nhận ra ngay. Với người trong nhà chỉ cần bà học được cách ngồi, cách chải tóc, cách cầm tỳ bà và giữ được dáng vẻ quen thuộc của Vân Chi trước mặt người ngoài thì đã đủ. Như Ngọc không được hỏi có muốn hay không. Sau khi Vân Chi biết mình sẽ bị thay thế, người trong nhà bắt đầu đưa quần áo của cô cho Như Ngọc, bắt bà học cách ăn mặc, cách đi đứng, cách ngồi ở những chỗ Vân Chi thường ngồi. Họ còn bảo bà học đàn tỳ bà, dù bà chưa từng biết đàn. Ban đầu Như Ngọc không hiểu tại sao phải làm đến mức ấy. Sau đó bà mới hiểu, họ không chỉ muốn che chuyện Vân Chi biến mất. Họ muốn cái tên Vân Chi tiếp tục sống trong căn nhà này, để nếu có người hỏi, họ vẫn có thể chỉ vào một người rồi nói: “Cô ấy vẫn ở đây.”
“Bọn họ bắt tôi học cách ngồi giống cô ấy.” Bà vừa nói vừa nhìn xuống đầu gối “Sau đó là cách cầm tỳ bà.”
Tôi hỏi: “Bà biết đàn sao?”
Như Ngọc lắc đầu “Không.”
“Vậy tại sao phải học?”
“Bởi vì họ bảo tôi phải biết.” Bà cười một tiếng rất khẽ nhưng trong đó chẳng có gì vui vẻ “Nhưng tôi đàn rất tệ.”
Tôi không nhịn được hỏi: “Vậy người ngoài không nhận ra sao?”
“Có.”
Bà nhìn tôi “Nhưng chẳng ai muốn nghe kỹ.”
Câu nói ấy khiến căn phòng im lặng thêm một lúc. Hoài An không hỏi nữa. Hắn để bà tự kể tiếp. Bà kể ba tháng đầu tiên bà chỉ học vài động tác giả. Khi khách đến, bà ngồi trước cây tỳ bà, hai tay đặt lên dây đàn rồi làm ra vẻ đang chơi, còn phần âm nhạc thật sự sẽ do người khác đảm nhận. Có khi người ta chỉ cần nhìn thấy một người phụ nữ mặc quần áo đẹp ngồi bên cửa sổ, trong tay ôm tỳ bà là đã đủ hài lòng, chẳng ai quan tâm người đó có thật sự biết đàn hay không. Về sau Như Ngọc dần học được vài khúc đơn giản, không phải vì bà yêu thích mà vì nếu không học thì người ta sẽ phát hiện. Bà phải nhớ từng thói quen của Vân Chi, từ cách cầm chén trà đến cách cúi đầu khi nghe người khác nói chuyện. Có những lúc bà soi mình trong gương rồi tự hỏi người đang nhìn lại mình là ai. Nhưng những câu hỏi như thế không có ai trả lời. Người trong nhà gọi bà là Vân Chi, khách đến cũng gọi bà là Vân Chi, những người từng biết Như Ngọc trước kia dần dần không còn lui tới nữa. Chỉ cần một cái tên được gọi đủ lâu, người ta sẽ bắt đầu tin rằng nó vốn thuộc về người đang đứng trước mặt mình.
“Cô ấy biết chuyện này?”
Như Ngọc gật đầu.
“Biết.”
“Cô ấy nói gì?”
Bà nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Không nói gì cả.”
Tôi không hiểu.
Như Ngọc chậm rãi giải thích, chiếc gương được đặt trước mặt Vân Chi vào một ngày trời mưa. Khi ấy Vân Chi vẫn còn sống. Nhà họ Thẩm nói muốn giữ lại hình ảnh của cô trước khi đưa cô đi nơi khác nhưng thật ra họ muốn Như Ngọc đứng phía sau, nhìn thật kỹ từng cử chỉ của Vân Chi để sau này có thể thay cô xuất hiện trước mặt người khác.
“Cô ấy nhìn thấy tôi trong gương.”
Như Ngọc nói.
“Lúc đó tôi đứng sau lưng cô ấy, mặc chiếc áo đỏ họ đưa cho.”
Tôi lập tức nhớ đến hình ảnh đêm hôm trước. Người áo xanh ngồi bên cửa sổ, phía sau là một người phụ nữ áo đỏ đứng rất gần.
“Vân Chi biết ngay.”
“Biết gì?”
“Rằng họ không định đưa cô ấy đi.”
Như Ngọc cúi đầu.
“Họ định để cô ấy biến mất còn tôi sẽ ở lại.”
Tôi không nói được gì. Trong đầu tôi hiện lên cảnh người phụ nữ áo xanh trong gương, cô ngồi ôm cây tỳ bà, còn người áo đỏ đứng phía sau. Không hiểu vì sao lúc này tôi mới nhận ra điều đáng sợ nhất trong hình ảnh đó không phải là hai người phụ nữ cùng xuất hiện mà là một người đang nhìn người kia học cách sống cuộc đời của mình.
Như Ngọc kể rằng sau ngày hôm đó, ngày Vân Chi chết, chiếc gương được đặt trước mặt cô. Khi ấy những người đứng phía sau muốn nhìn khuôn mặt cô lần cuối nhưng mục đích thật sự không chỉ là để tiễn một người sắp chết. Họ muốn Như Ngọc nhớ thật kỹ khuôn mặt của Vân Chi, bởi từ ngày hôm đó cô sẽ phải mang cái tên ấy. Bà cụ nói đến đây thì dừng lại, bàn tay lần xuống chiếc chăn, ngón tay chạm vào mép vải như đang cố tìm một thứ gì đó đã nằm ở nơi này rất lâu. Sau cùng bà nói một câu khiến tôi không thể quên: “Nhưng bọn họ không biết lúc đó Vân Chi vẫn còn sống.”
Tôi hỏi tại sao Vân Chi lại còn sống nhưng bà không trả lời câu ấy. Bà chỉ kể rằng hôm đó Vân Chi đã nhìn thấy mình trong gương rồi nhìn thấy Như Ngọc đứng phía sau. Hai người không cần nói nhiều cũng hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Như Ngọc khi ấy sợ đến mức không dám nhìn thẳng vào cô. Vân Chi lại rất bình tĩnh. Cô gọi Như Ngọc đến gần, lấy chiếc trâm bạc trên tóc mình xuống rồi đưa cho bà. Như Ngọc không dám nhận, cứ lắc đầu nói nếu người trong nhà nhìn thấy thì cả hai sẽ gặp chuyện. Vân Chi vẫn giữ tay bà, bảo cứ cầm lấy.
“Cô ấy đưa nó cho tôi.”
Bà đưa tay sờ lên mái tóc bạc của mình như thể chiếc trâm vẫn còn ở đó.
“Cô ấy bảo tôi giữ lấy.”
“Tại sao?”
“Cô ấy nói…”
Như Ngọc dừng lại rất lâu. “Nếu sau này người ta vẫn gọi cái tên Vân Chi, cô đừng quên… đã từng có một người tên như vậy.” Chỉ một câu như vậy thôi, nhưng bà cụ nói mình nhớ đến tận bây giờ. Có lẽ chính vì nhớ câu ấy nên bà đã giữ chiếc trâm suốt mấy chục năm, dù rất nhiều lần từng nghĩ nên vứt nó đi để khỏi nhớ lại những chuyện cũ.
Tôi cúi đầu nhìn nền nhà. Không hiểu vì sao chỉ một câu nói đơn giản như vậy lại khiến lòng tôi nặng xuống.
Như Ngọc không biết phải nói gì với cô ấy lúc đó. Bà còn rất trẻ, chỉ biết cầm lấy chiếc trâm và nhìn người trước mặt. Vân Chi không khóc, cô chỉ ngồi bên cửa sổ rất lâu nhìn ra khoảng sân nơi người đàn ông kia từng đứng đợi cô vào những buổi chiều trước đây.
“Cô ấy có hận tôi không?”
Đó là câu đầu tiên Như Ngọc hỏi Hoài An.
Như Ngọc kể rằng điều khiến Vân Chi đau nhất không phải việc cô sắp chết. Người cô yêu đã chết trước cô và từ ngày ấy cô đã không còn nghĩ đến chuyện chạy trốn nữa. Điều khiến cô không thể nào buông được chỉ là việc cô biết sau khi mình chết, cái tên Vân Chi vẫn sẽ tiếp tục xuất hiện trong căn nhà ấy nhưng người mang cái tên đó sẽ không còn là cô. Cô nhìn Như Ngọc học cách ngồi giống mình, mặc quần áo của mình, cầm cây tỳ bà của mình. Cô nghe người trong nhà gọi một cô gái khác bằng chính cái tên mình đã mang suốt những năm tháng còn lại. Cô không phản kháng nữa bởi lẽ trong lòng cô, người mà cô muốn cùng nhau sống suốt đời đã không còn nữa, cô cũng chẳng còn gì để chờ bên ngoài nữa. Nhưng cô vẫn muốn có một người nhớ rằng cái tên ấy từng thuộc về một người khác.
Sau đó bà vẫn giữ lại chiếc trâm không phải cho mình mà là để có một người nhớ rằng trước khi cái tên ấy thuộc về một người khác đã từng có một Vân Chi thật sự sống ở đó.
Sau đó Vân Chi biến mất. Như Ngọc không kể thêm cô biến mất như thế nào. Có những chuyện bà không muốn nhớ lại, cũng có những chuyện dù đã sống hơn chín mươi năm bà vẫn không thể nói thành lời. Chỉ biết sau ngày đó, cái tên Vân Chi tiếp tục tồn tại trong nhà họ Thẩm. Như Ngọc ở lại, mặc quần áo của cô, ngồi ở chỗ cô từng ngồi, đôi khi ôm cây tỳ bà trước mặt khách. Không ai hỏi tại sao tiếng đàn khác đi. Những người từng biết Vân Chi thì dần già đi, người mới đến chỉ biết trong nhà có một cô gái tên Vân Chi. Còn Vân Chi thì không còn một tấm bài vị. Không có tang lễ. Không có người thắp nhang. Cũng chẳng có ai đứng ra nói cô từng là người của nhà họ Thẩm. Cô vốn chưa từng được ghi tên vào gia đình ấy.
Tôi ngồi đó mà không biết nên nhìn bà hay nhìn Hoài An. Mọi chuyện từ chiếc gương, bức tranh cho đến cái tên chúng tôi vừa tìm thấy dường như cùng lúc nối lại với nhau nhưng khi câu chuyện ấy hiện ra trước mắt, tôi lại thấy nó còn khó chịu hơn những gì mình tưởng. Hoài An hỏi bà có biết chiếc gương vẫn còn ở nhà họ Thẩm không. Bà cụ nhắm mắt lại, nói rằng bà từng nghĩ nó đã bị đập từ lâu. Hoài An nói chiếc gương vẫn còn nguyên, bà nghe xong chỉ thở ra một hơi rất chậm rồi bảo: “Vậy cô ấy vẫn chưa chịu đi.” Tôi hỏi bà đang nói Vân Chi sao, bà mở mắt nhìn tôi, lắc đầu. Tôi lại hỏi Như Ngọc sao, bà cũng lắc đầu. Hoài An từ đầu đến cuối không hỏi thêm câu ấy. Hắn chỉ ngồi im, để bà tự nói tiếp khi muốn nói. Sau này tôi mới hiểu vì sao hắn luôn có cách làm việc như vậy. Có những chuyện nếu vừa bắt đầu đã vội gọi tên nó là ma, là oán hồn hay là thứ gì đó không sạch sẽ, người ta sẽ chỉ chăm chăm tìm cách đuổi nó đi. Nhưng trong câu chuyện này, thứ đáng để chúng tôi tìm hiểu chưa bao giờ chỉ là người phụ nữ xuất hiện trong gương mà là vì sao một người đã chết lại không còn tên, còn một người đang sống thì phải mang tên của người chết suốt cả đời.
Tôi hỏi bà có hận Vân Chi không. Bà cụ nhìn ra cửa sổ, nơi mấy nhánh trúc đang lay nhẹ trong gió, rồi nói không. Tôi hỏi vậy có hận nhà họ Thẩm không, lần này bà trả lời rất nhanh: “Có.” Nhưng sau đó bà lại cười, bảo rằng mình từng hận rất lâu, nhất là những năm còn trẻ. Khi ấy bà nghĩ nếu Vân Chi không chết thì người bị ép sống như một người khác sẽ không phải là mình. Bà cũng từng nghĩ nếu mình đủ can đảm thì đã có thể bỏ đi mang theo chiếc trâm bạc và giữ lại cái tên của mình. Nhưng cuối cùng bà vẫn ở lại, không phải vì tha thứ cho nhà họ Thẩm mà vì khi con người đã bị buộc vào một thân phận quá lâu đến lúc muốn bước ra cũng không biết mình còn có thể trở thành ai. Bà nói càng về già càng hiểu một chuyện đơn giản, rằng người chết được người khác nhớ tên đã là một điều may mắn. Có người chết đi rồi con cháu đời sau vẫn nhắc đến họ, vẫn đặt bài vị, vẫn giữ ảnh trong nhà còn Vân Chi thì ngay cả tên cũng bị lấy mất. Bà bảo lúc trẻ mình chỉ nghĩ đó là chuyện bất công, đến khi già rồi mới thấy đáng sợ nhất không phải là chết mà là chết rồi không còn ai biết mình từng tồn tại.
Tôi hỏi sau đó chuyện gì xảy ra, bà cụ không nói nữa. Hoài An cũng không hỏi. Tôi nhìn hai người rồi chợt hiểu rằng có những chuyện dù biết được đầu đuôi cũng không thể hỏi đến tận cùng. Người trong cuộc đã sống hơn chín mươi năm với nó, có lẽ mỗi lần nhắc lại đều giống như tự mở một vết thương cũ. Chúng tôi ngồi yên một lúc, ngoài sân có tiếng gió thổi qua bụi trúc rồi Hoài An lấy chiếc gương ra khỏi túi. Bà cụ lập tức quay mặt sang phía khác, không chịu nhìn. Hắn đặt gương lên chiếc bàn gỗ nhỏ đối diện cửa sổ, để mặt gương hướng về phía ánh sáng buổi chiều. Lớp đồng cũ phản chiếu một chút ánh sáng nhợt nhạt nhưng trong đó không có hình ảnh căn phòng hay cửa sổ. Mặt gương giống như một mặt nước đứng yên, sau vài giây mới từ từ hiện ra một khung cảnh khác.
Tôi nhìn thấy Vân Chi. Cô mặc áo xanh nhạt, mái tóc dài xõa xuống lưng, trên tay ôm cây tỳ bà. Phía sau cô là Như Ngọc, khi ấy vẫn còn là một cô gái trẻ. Không có người áo đỏ, không có chiếc kéo, cũng không có những hình ảnh méo mó mà chúng tôi từng thấy trong những lần trước. Hai người chỉ đứng cạnh nhau trong một căn phòng cũ. Vân Chi quay đầu nhìn Như Ngọc, còn Như Ngọc đưa tay lên che mặt, khóc rất lâu. Tôi nhìn mà bất giác thấy cổ họng nghẹn lại. Vân Chi không làm gì cả chỉ đứng đó nhìn người bạn của mình. Một lúc sau cô khẽ mỉm cười rồi quay sang nhìn thẳng vào mặt gương. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy rõ khuôn mặt cô. Tôi từng tưởng người chết xuất hiện trong gương sẽ có một vẻ gì đó khác với người sống nhưng khuôn mặt Vân Chi lúc ấy vẫn là khuôn mặt của một cô gái bình thường, chỉ có điều trong đôi mắt cô có một sự mệt mỏi rất sâu, giống như người đã chờ đợi quá lâu mà không biết mình còn phải chờ đến bao giờ.
Hoài An đứng bên cạnh tôi, nhìn mặt gương rồi nói rất khẽ: “Cô ấy không muốn người ta trả thù.” Bà cụ mở mắt, gật đầu. Tôi hỏi có phải Vân Chi chỉ muốn lấy lại tên của mình không. Bà nói: “Ừ.” Hai chữ ấy nhẹ đến mức gần như tan vào tiếng gió ngoài cửa sổ. Mặt gương dần trở lại bình thường. Tôi nhìn bà rồi hỏi nếu chỉ cần trả lại tên, vậy tại sao Vân Chi vẫn xuất hiện. Bà cụ đáp: “Vì tên chưa được trả.” Tôi lúc ấy mới hiểu, có lẽ thứ khiến người phụ nữ trong gương mãi không chịu biến mất không phải là oán hận, cũng không phải mong muốn làm hại ai. Cô chỉ bị giữ lại bởi một chuyện mà người sống đã cố tình không làm. Suốt bao nhiêu năm, trong nhà họ Thẩm vẫn có chỗ cho tên Vân Chi nhưng cái tên ấy không thuộc về người đã chết nữa. Nó thuộc về một người còn sống.
Khi chúng tôi trở lại nhà họ Thẩm, trời đã tối hẳn. Từ đường vẫn im lìm như cũ. Hoài An không nói với Thẩm Kính Sơn quá nhiều, chỉ bảo ông ta rằng chúng tôi đã biết chuyện về Vân Chi. Ông ta đứng trước cửa rất lâu, cuối cùng cũng không phủ nhận nữa. Ông không hỏi chúng tôi biết được bao nhiêu, cũng không hỏi Tần Như Ngọc đã nói gì. Có lẽ đến lúc ấy, ông ta đã hiểu rằng những chuyện bị giấu quá lâu cuối cùng vẫn sẽ có cách trở lại. Hoài An đi tới trước bàn thờ rồi hỏi: “Nhà các ông chưa từng có bài vị của cô ấy?” Thẩm Kính Sơn không trả lời. “Vậy hôm nay đặt một cái.” Ông ta nhìn hắn. “Có cần ghi họ Thẩm không?” Hoài An lắc đầu. “Chỉ cần ghi đúng tên.”
Không danh hiệu, không lời ca tụng, không ghi thêm những thứ người ta thường dùng để làm cho một người trở nên quan trọng hơn. Chỉ có tên. Hoài An thắp một nén hương rồi lùi lại. Tôi đứng bên cạnh nhìn khói hương chậm rãi bay lên, nghe tiếng mưa nhỏ ngoài mái hiên và bỗng cảm thấy căn từ đường hôm ấy yên tĩnh hơn mọi lần trước.
Chiếc gương được đặt đối diện bàn thờ. Một lúc sau mặt gương sáng dần lên, Vân Chi lại xuất hiện. Lần này cô ngồi bên cửa sổ, cây tỳ bà đặt trên đầu gối. Cô không đàn, chỉ nhìn ra ngoài sân như thể đang đợi một người nào đó. Sau một lúc, cô đưa tay đặt lên dây đàn rồi khẽ gảy một tiếng. Âm thanh rất nhỏ nhưng rõ ràng. Tôi nhìn sang Hoài An, hắn không nói gì. Trong gương, Vân Chi chậm rãi đứng dậy, đặt cây tỳ bà xuống rồi quay đầu nhìn bài vị mới trên bàn thờ. Khuôn mặt cô không còn vẻ mệt mỏi như trước. Cô nhìn dòng chữ trên bài vị rất lâu sau đó quay sang phía cửa sổ. Ánh sáng bên ngoài dần sáng hơn, bóng dáng cô cũng nhạt đi. Đến khi hình ảnh biến mất hoàn toàn, mặt gương chỉ còn phản chiếu căn từ đường hiện tại. Tôi đứng yên thêm một lúc rồi mới thở ra, không biết mình vừa chứng kiến một chuyện thật sự xảy ra hay chỉ là một ảo giác được tạo ra bởi quá nhiều ngày mất ngủ. Hoài An kéo tấm vải đen phủ lên gương. Ngay trước khi tấm vải chạm xuống, tôi nghe hắn nói rất khẽ: “Còn một người chưa có tên.” Tôi quay sang nhìn hắn. “Như Ngọc?” Hắn lắc đầu. “Không.” Tôi hỏi: “Vậy là ai?” Hoài An nhìn tấm bài vị trên bàn thờ. “Người vừa được trả lại tên.” Tôi im lặng.
Ngoài sân, mưa đã tạnh từ lúc nào. Gió thổi qua hàng cây, mang theo mùi đất ẩm và hương nhang còn sót lại trong từ đường. Từ ngày hôm đó, chiếc gương không còn xuất hiện hình ảnh hai người phụ nữ nữa.
Sáng hôm sau, khi chúng tôi chuẩn bị rời nhà họ Thẩm, Tô Uyển đưa cho chúng tôi một chiếc hộp gỗ nhỏ. Bà nói bà tìm thấy nó trong chiếc rương cũ của mẹ chồng, vốn đã bị khóa nhiều năm. Bên trong chỉ có một mảnh giấy, nét chữ đã phai gần hết. Hoài An mở ra, đọc đi đọc lại rồi đưa cho tôi xem. Trên đó chỉ còn một câu: “Nếu sau này có người hỏi tôi là ai, xin hãy nói tên tôi.” Không có chữ ký. Tôi hỏi có phải của Vân Chi không, Hoài An lắc đầu. Tôi hỏi Như Ngọc, hắn cũng lắc đầu. Tôi hỏi vậy của ai, hắn gấp mảnh giấy lại, nói có lẽ là của một người khác. Tôi định hỏi tiếp nhưng nhìn vẻ mặt hắn thì thôi. Hắn nói chưa thể biết người đó là ai, mà chuyện chưa biết thì để sau. Lần này tôi cũng không ép hắn, bởi sau những gì đã trải qua, tôi bắt đầu hiểu câu “chưa biết” của Hoài An không phải để né tránh. Có những thứ nếu chưa đủ manh mối thì cố đoán chỉ khiến người ta nhìn nhầm hướng.
Chúng tôi rời nhà họ Thẩm vào buổi sáng. Trời sau mưa trong hơn mấy ngày trước, hai bên đường đã bắt đầu có không khí chuẩn bị đón năm mới. Trước cửa nhiều nhà đặt những chậu quất vàng, trẻ con chạy dưới mái hiên, các cửa hàng mở cửa từ sớm, mùi bánh hấp và khói than hòa lẫn trong gió. Tôi ngồi ghế sau nhìn thành phố trở lại vẻ bình thường, trong lòng bỗng thấy câu chuyện vừa qua giống như một giấc mơ dài. Tôi hỏi Hoài An chiếc gương còn giữ được chuyện gì nữa không. Hắn nói có. Tôi hỏi là gì, hắn đáp không biết. Tôi bật cười bảo cuối cùng hắn vẫn chỉ nói được câu đó, hắn cũng chẳng cãi, chỉ nói: “Chưa biết không có nghĩa là không có.” Xe chạy qua một cây cầu đá. Tôi vô thức nhìn vào kính chiếu hậu và trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy hàng ghế sau vẫn trống không nhưng trong mặt kính lại có một người phụ nữ đang ngồi sát cửa sổ. Cô mặc áo xanh, tóc dài buông xuống, hai tay đặt trên đầu gối, trước người là một cây tỳ bà cũ.
Tôi theo phản xạ quay đầu nhìn lại nhưng phía sau không có ai. Khi quay về phía trước, Hoài An đã lên tiếng bảo tôi đừng quay lại. Tôi hỏi có phải Vân Chi không, hắn im lặng một lúc rồi nói không. Tôi hỏi vậy là ai, hắn vẫn nhìn thẳng con đường phía trước, sau đó mới nói: “Người thứ hai.” Tôi không hỏi nữa. Tôi chỉ nhìn kính chiếu hậu. Người phụ nữ áo xanh vẫn ngồi đó nhưng lần này cô từ từ nâng cây tỳ bà lên. Động tác rất chậm, tự nhiên đến mức giống như cô đã làm việc ấy hàng nghìn lần. Bên ngoài cửa xe, mọi thứ vẫn bình thường. Một bà cụ đứng trước quầy bánh hấp, người bán vừa cười vừa đưa túi giấy cho bà, một chiếc xe ba bánh chạy ngang, tiếng chuông leng keng vang lên giữa phố, ở phía xa, vài con chim sẻ đậu trên mái ngói cũ. Chẳng có thứ gì trong khung cảnh ấy liên quan đến người phụ nữ đang ngồi trong kính, vậy mà chính sự bình thường đó lại khiến tôi càng không biết phải giải thích thế nào.
Tôi bỗng nhớ đến câu chữ đã nhìn thấy ở mặt sau chiếc gương: “Kính này không dùng để soi mặt.” Trước đây tôi cứ nghĩ đó là lời cảnh báo, giống như một câu được viết để ngăn người khác chạm vào một thứ nguy hiểm. Nhưng sau tất cả những chuyện đã xảy ra, tôi mới hiểu có lẽ nó chưa bao giờ là lời cảnh báo. Nó giống một lời nhắn hơn. Người viết nó biết sẽ có ngày chiếc gương rơi vào tay người khác, biết sẽ có người nhìn thấy những thứ người sống đã cố quên, cho nên chỉ để lại một câu như vậy mà không nói gương sẽ cho người ta nhìn thấy gì, cũng không nói phải làm gì khi nhìn thấy. Bởi nếu thật sự muốn biết một người đã chết là ai, thứ cần nhìn chưa bao giờ chỉ là khuôn mặt của họ. Điều cần nhìn là những người còn sống đã làm gì với cái tên của họ, đã giữ nó lại hay đem nó cho người khác, đã nhớ đến họ hay cố tình khiến tất cả mọi người quên đi.
Xe qua khỏi cây cầu. Tôi nhìn kính chiếu hậu lần cuối và thấy người phụ nữ áo xanh đã biến mất. Chỉ còn một bóng người mặc áo đỏ đứng giữa một căn phòng không thuộc về hiện tại. Lần này nó không nhìn tôi. Nó đang nhìn một người khác, một người dường như đứng ngay phía sau tôi. Tôi còn chưa kịp hiểu thì Hoài An đột nhiên phanh xe. Tôi quay đầu theo phản xạ, hắn lập tức nói: “Đã bảo đừng quay lại.” Tôi nhìn xuống ghế sau. Không có ai nhưng ngay nơi tôi vừa ngồi có một sợi tóc dài màu đen. Hoài An nhìn thấy nó nhưng không nói gì, chỉ tiếp tục lái xe. Tôi cũng không hỏi nữa.
Qua cửa sổ, Tô Châu vẫn hiện ra trong ánh nắng nhạt cuối đông, những mái ngói đen nối nhau, những con kênh chảy chậm giữa nhà cửa, những chậu quất trước hiên vàng rực dưới ánh sáng. Tôi cúi xuống nhìn chiếc hộp gỗ trong tay, định cất mảnh giấy vào lại thì chợt phát hiện dưới đáy hộp còn một lớp giấy mỏng mà lúc trước chúng tôi không thấy. Tôi bóc nó ra, bên dưới chỉ có sáu chữ: “Còn một người chưa có tên.” Tôi chưa kịp đưa cho Hoài An thì người áo đỏ lại xuất hiện trong kính chiếu hậu. Lần này nó đứng rất gần, gần đến mức tôi có thể nhìn thấy bàn tay đang đặt lên vai người phụ nữ áo xanh. Cây tỳ bà nằm trong tay cô nhưng cô không nhìn bóng người phía sau. Cô chỉ nhìn tôi rồi đưa một ngón tay lên môi ra hiệu im lặng.
Tôi nhìn Hoài An, hỏi rất nhỏ rằng hắn có biết người đó là ai rồi phải không. Hắn không trả lời ngay. Một lúc lâu sau, hắn mới nói: “Biết một nửa.” Tôi hỏi còn một nửa thì sao, hắn bảo phải chờ cô ấy tự nói. Tôi nhìn lại kính chiếu hậu nhưng trong đó đã không còn ai nữa. Chỉ có một vệt nước nhỏ từ góc trên của mặt kính chậm rãi trượt xuống, đi qua hình phản chiếu của tôi rồi dừng lại đúng trên đôi mắt. Lần này tôi không lau nó đi.
Nhiều năm sau, Tần Như Ngọc qua đời vì tuổi già. Con cháu dọn lại những món đồ bà để lại, trong một chiếc hộp gỗ cũ tìm thấy chiếc trâm bạc đã được giữ suốt mấy chục năm. Bên dưới chiếc trâm còn có một mảnh giấy nhỏ, nét chữ đã nhòe nhưng vẫn đọc được một cái tên.
Vân Chi
Họ không biết chuyện năm xưa chỉ biết người phụ nữ lớn tuổi trong nhà đã giữ món đồ ấy cả đời. Sau khi hỏi thăm và lần lại địa chỉ cũ, họ đem chiếc trâm trả về nhà họ Thẩm. Ngày chiếc trâm được đặt lại trên bàn trong từ đường, tôi vừa hay có mặt ở đó. Tôi nhìn nó rất lâu. Nó không còn sáng như trong ký ức của chiếc gương. Bề mặt bạc đã xỉn màu, trên thân trâm có một vết xước nhỏ. Hoài An không chạm vào nó. Hắn chỉ nhìn một lúc rồi bảo Thẩm Kính Sơn đặt nó bên cạnh bài vị.
Không ai nói gì. Tối hôm đó, trước khi rời đi, tôi quay lại nhìn chiếc gương lần cuối. Tấm vải đen vẫn phủ kín mặt gương. Tôi đứng đó một lúc, rồi bỗng có cảm giác như phía sau lớp vải, có người đang ngồi bên cửa sổ. Tôi không kéo xuống xem bởi vì lần này tôi biết người đó là ai và có lẽ sau từng ấy năm cô ấy cũng không còn cần ai phải nhìn thấy mình nữa.
—Hết—
Nhấn vào link sản phẩm dưới đây để ủng hộ Mộng Hồng Trần nhé ❤️