Chương 1:
Tôi quen Tạ Hoài An đã nhiều năm, nói đúng ra thì nếu không phải vì cùng làm việc trong một lĩnh vực khá đặc biệt, có lẽ hai người chúng tôi cũng chẳng có cơ hội trở thành bạn bè. Hoài An hiểu biết rất nhiều về đồ cổ, phong thủy và những chuyện mà người bình thường nghe xong sẽ cười cho thối mũi, còn tôi thì hoàn toàn ngược lại, đối với mấy thứ này chỉ có một nguyên tắc rất đơn giản, chưa nhìn thấy tận mắt thì không tin nhưng nếu thật sự nhìn thấy rồi thì cũng không hỏi quá nhiều. Cũng chính vì tính cách trái ngược như vậy mà mỗi lần Hoài An nhận được một vụ việc kỳ quái, tôi thường là người bị kéo theo đầu tiên, lúc đầu còn tưởng mình đi xem cho biết, về sau mới phát hiện những chuyến đi cùng hắn thường chẳng bao giờ có kết thúc tử tế.
Lần này cũng vậy, vào một buổi sáng cuối thu, khi tôi còn đang ngồi ăn mì ở một quán nhỏ gần nhà thì Hoài An gọi điện bảo tôi thu dọn đồ đạc, buổi chiều cùng hắn đến Tô Châu. Tôi hỏi đi làm gì, hắn chỉ nói có người nhờ xem một món đồ cũ, nếu tôi rảnh thì đi cùng cho vui. Tôi nghe chữ “cho vui” là đã thấy không ổn nhưng nghĩ đến việc lâu rồi chưa ra ngoài, lại thêm mấy ngày nay công việc cũng chẳng có gì làm nên cuối cùng vẫn đồng ý. Sau này tôi mới hiểu, trên đời này có một số lời mời nghe càng nhẹ nhàng thì càng không nên nhận.
Từ thành phố chúng tôi đi tàu đến Tô Châu, suốt quãng đường Hoài An gần như không nói chuyện, phần lớn thời gian chỉ ngồi dựa vào cửa sổ xem điện thoại, thỉnh thoảng lại ghi vài thứ vào cuốn sổ nhỏ hắn luôn mang theo bên người. Tôi nhìn hắn một lúc lâu rồi không nhịn được hỏi: “Rốt cuộc người ta bảo cậu xem cái gì vậy?” Hoài An vẫn không ngẩng đầu lên, chỉ đáp: “Một cái gương.” Tôi bật cười: “Gương thì có gì mà xem? Soi mặt không được à?” Hắn lúc này mới liếc tôi một cái, vẻ mặt rất bình thản: “Nếu chỉ dùng để soi mặt thì đã chẳng cần gọi tôi.” Tôi nghe vậy thì cũng chẳng hỏi thêm, trong lòng lại bắt đầu có chút tò mò. Hoài An không phải người thích làm ra vẻ thần bí, nếu một món đồ thật sự không có gì đặc biệt, hắn thường sẽ nói thẳng là không có gì đặc biệt. Hắn càng ít nói thì thường có nghĩa là chuyện càng phiền phức. Mà lúc ấy, tôi còn chưa biết cái gương kia sau này sẽ khiến tôi nhớ mãi đến một câu viết ở mặt sau của nó.
Tô Châu hôm ấy trời âm u, lúc chúng tôi xuống tàu thì mưa đã bắt đầu rơi. Mưa Giang Nam không giống những trận mưa lớn ở phía bắc, hạt không nặng nhưng dai dẳng, cứ lất phất mãi khiến mái ngói đen, tường trắng và những con đường đá ven kênh đều phủ lên một lớp ẩm ướt lạnh lẽo. Người đến đón chúng tôi là một người đàn ông khoảng ngoài năm mươi tên Thẩm Kính Sơn. Ông ta mặc áo khoác màu xám, dáng người hơi gầy, khuôn mặt nhìn qua khá bình thường nhưng sắc mặt lại trắng đến mức khiến người ta có cảm giác mấy ngày rồi ông chưa được ngủ ngon. Vừa gặp Hoài An, ông ta đã chủ động đưa tay ra bắt, nói vài câu khách sáo rồi liên tục nhìn đồng hồ như sợ chúng tôi đến muộn. Tôi vốn định hỏi thêm vài câu nhưng Hoài An đã ngăn lại, bảo cứ lên xe trước rồi nói.
Nhà họ Thẩm nằm ở một khu cũ cách trung tâm Tô Châu không quá xa. Xe đi qua mấy con đường nhỏ, cuối cùng dừng trước một cánh cổng gỗ màu nâu sẫm. Bên trong là một căn nhà kiểu cũ được sửa sang khá cẩn thận, mái ngói cong, hành lang lát đá, giữa sân có một cây hải đường đã rụng gần hết lá. Thẩm Kính Sơn vừa mở cửa vừa giới thiệu nơi này là nhà tổ của gia đình, trước kia người trong nhà khá đông nhưng mấy năm gần đây con cháu lần lượt chuyển đi nơi khác nên chỉ còn vợ chồng ông thỉnh thoảng về ở. Tôi nghe vậy cũng không thấy gì kỳ lạ, chỉ đến khi bước qua sân mới nhận ra căn nhà này có một sự yên tĩnh hơi khác thường. Không phải kiểu yên tĩnh của một căn nhà ít người mà là dù ngoài trời đang mưa, bên trong vẫn có cảm giác âm thanh bị giữ lại, tiếng bước chân của chúng tôi rơi xuống nền đá nghe rõ mồn một.
Vợ của Thẩm Kính Sơn tên Tô Uyển ra đón chúng tôi ở phòng khách. So với chồng, bà trông trẻ hơn vài tuổi, ăn mặc giản dị, tóc búi gọn sau gáy nhưng vừa nhìn thấy Hoài An thì vẻ mặt lập tức căng thẳng. Bà mời chúng tôi uống trà rồi ngồi xuống, nhưng sau khi trà được rót ra lại không ai động đến. Cuối cùng Tô Uyển vẫn là người lên tiếng trước: “Tạ tiên sinh, lần trước tôi đã nói qua với anh, chuyện này tôi thật sự không biết phải giải thích thế nào. Nếu không phải tận mắt nhìn thấy thì tôi cũng không tin.” Hoài An gật đầu, hỏi: “Bà nhìn thấy gì?” Tô Uyển đưa mắt nhìn chồng, sau đó mới nói nhỏ: “Trong gương có người.”
Tôi suýt nữa bật cười nhưng nhìn vẻ mặt của hai vợ chồng thì lại cố nhịn. Hoài An không có phản ứng gì đặc biệt, chỉ hỏi tiếp: “Người đó là ai?” Tô Uyển lắc đầu. “Không biết. Ban đầu tôi chỉ nghĩ mình nhìn nhầm.” Bà kể chiếc gương được cất trong một căn phòng phía sau từ đường, đã nhiều năm không sử dụng. Khoảng nửa tháng trước, khi người giúp việc dọn dẹp, bà tình cờ nhìn thấy nó nên cho mang ra lau sạch. Từ hôm ấy, cứ mỗi lần đi ngang qua căn phòng, bà lại có cảm giác trong gương có một bóng người. Lần đầu tiên chỉ là một người phụ nữ đứng rất xa, quay lưng về phía bà. Bà cho rằng do ánh sáng phản chiếu nên không để ý nhưng mấy ngày sau hình ảnh ấy lại xuất hiện rõ hơn, có lúc người phụ nữ còn ngồi trước cửa sổ chải tóc, có lúc ôm một cây đàn giống tỳ bà.
Tôi hỏi: “Bà có chắc đó là hình ảnh trong gương không? Có thể là phản chiếu của người nào đó ở phía sau?” Tô Uyển lắc đầu rất mạnh: “Tôi cũng từng nghĩ vậy. Vì thế tôi đã đứng thử ở mọi vị trí, thậm chí gọi người giúp việc đứng trước gương nhưng không phải. Người trong gương không làm theo động tác của người đứng trước nó.” Nói đến đây, bà ngừng lại, hai tay siết chặt chiếc khăn đặt trên đầu gối. “Có một lần tôi đứng trước gương rất lâu. Người phụ nữ trong đó đang chải tóc. Tôi đưa tay lên thì cô ta không động đậy nhưng sau một lúc, cô ta từ từ ngẩng đầu lên.” Tôi nhìn Hoài An, thấy hắn cuối cùng cũng đặt chén trà xuống. “Bà nhìn thấy mặt cô ta?” Tô Uyển im lặng một lúc rồi đáp: “Không rõ. Chỉ thấy tóc.” Tôi hỏi vì sao không nhìn rõ thì bà nói: “Bởi vì ngay lúc cô ta ngẩng đầu, tôi nghe thấy tiếng tỳ bà từ căn phòng phía sau.”
Trong phòng khách lập tức yên lặng. Tôi vốn không phải người dễ sợ nhưng chẳng hiểu vì sao nghe đến đây lại thấy sống lưng hơi lạnh. Thẩm Kính Sơn ngồi bên cạnh cũng cúi đầu, dường như không muốn nhắc lại chuyện đó. Hoài An hỏi: “Chiếc gương đâu?” Ông ta đứng dậy dẫn chúng tôi qua một dãy hành lang dài. Càng đi về phía sau, ánh sáng càng tối. Căn nhà này vốn được thiết kế theo kiểu sân trong nên ban ngày đáng lẽ phải khá sáng nhưng khu vực từ đường lại nằm sâu bên trong, hai bên đều là tường cao, mưa xuống khiến không khí càng thêm lạnh. Trước cửa từ đường có một bậc đá thấp, bên trên treo một chiếc đèn cũ, ánh sáng vàng nhạt hắt xuống nền.
Chiếc gương đặt ở góc phòng được phủ bằng một tấm vải màu đen. Hoài An đứng cách nó một bước, không lập tức đưa tay mở ra mà nhìn quanh một lượt. Tôi thấy trên bàn thờ phía trước có khá nhiều bài vị nhưng có một khoảng trống ở chính giữa, bên cạnh còn đặt một chiếc bình hoa đã khô. Hoài An hỏi: “Nhà ông có người nào từng làm nghề đàn hát không?” Thẩm Kính Sơn khựng lại, sau đó mới nói: “Không.” Hoài An nhìn ông ta. “Chắc chắn?” Ông ta gật đầu. “Trong gia phả không có.” Tôi nghe câu này thì thấy hơi kỳ quặc bởi câu hỏi của Hoài An là trong nhà có ai từng làm nghề đàn hát, còn ông ta lại trả lời bằng chuyện gia phả. Nhưng Hoài An không hỏi tiếp, chỉ bảo ông ta ra ngoài trước.
Khi cánh cửa từ đường đóng lại, tôi mới hỏi: “Cậu nghi nhà này có người biết chuyện?” Hoài An nói: “Không phải nghi. Rõ ràng có.” Tôi hỏi người nào, hắn không trả lời mà kéo tấm vải phủ trên gương xuống. Chiếc gương hiện ra trước mắt chúng tôi. Đó là một chiếc gương đồng cũ, mặt gương hình tròn, viền ngoài đã phủ một lớp màu xanh đen do oxy hóa. Phần lưng gương được chạm khắc khá tinh xảo, chính giữa là hình một người phụ nữ trẻ đang ôm tỳ bà ngồi dưới gốc cây, xung quanh là những đường mây nhỏ. Nhìn qua có thể thấy đây không phải món đồ mới được làm giả nhưng phần bên dưới có dấu vết sửa chữa khá rõ. Một miếng kim loại mỏng được ghép vào gần chân gương, màu sắc không hoàn toàn đồng nhất với phần còn lại.
Hoài An lấy kính lúp ra, cúi xuống xem rất lâu. Tôi đứng phía sau nhìn mà chẳng thấy gì ngoài những vết xước. Một lúc sau hắn mới nói: “Cái này từng bị mở ra.” Tôi hỏi: “Bên trong có gì?” Hắn đáp: “Chưa biết.” Tôi cười: “Cậu lúc nào cũng ‘chưa biết’.” Hắn không để ý đến tôi, tiếp tục dùng ngón tay lần theo đường ghép. Sau đó hắn lấy một miếng giấy mỏng đặt lên phần chữ đã bị mài gần hết ở mặt sau, dùng than chì chà nhẹ. Những nét chữ mờ dần hiện ra nhưng chỉ có vài chữ không liền nhau. Tôi cúi xuống nhìn, còn chưa kịp đọc thì Hoài An đã lấy khăn phủ lại.
“Có gì?” Tôi hỏi.
“Có lời nhắn.”
“Lời gì?”
“Chưa đọc hết.”
Tôi nhìn hắn, biết hỏi thêm cũng chẳng được gì nên đành thôi. Nhưng đúng lúc hắn đặt chiếc gương xuống bàn, tôi vô tình nhìn vào mặt gương. Lúc đầu nó chỉ phản chiếu hai chúng tôi đứng trong căn phòng tối, phía sau là bàn thờ và mấy hàng bài vị. Tôi còn định nói cái gương này cũng chẳng có gì đặc biệt nhưng khi cúi đầu nhìn điện thoại rồi ngẩng lên lần nữa, tôi bỗng thấy ở cuối hành lang trong mặt gương có một bóng người.
Tôi tưởng mình nhìn nhầm nên đứng yên vài giây. Bóng người ấy đứng rất xa, gần cửa sổ phía sau, là một phụ nữ mặc áo màu xanh nhạt. Mái tóc dài xõa xuống lưng, trên tay dường như đang ôm một thứ gì đó. Tôi quay đầu nhìn về phía cửa sổ, ngoài đó chỉ có một khoảng sân nhỏ và màn mưa trắng xóa.
“Hoài An.”
Hắn không đáp.
Tôi nhìn lại mặt gương, người phụ nữ vẫn còn đó.
“Cậu nhìn xem.”
Lúc này hắn mới quay sang. Tôi chỉ vào mặt gương nhưng khi hắn nhìn vào thì hình ảnh đã thay đổi. Trong gương không còn người phụ nữ nữa, chỉ còn căn phòng trống và chúng tôi.
Tôi nuốt nước miếng, cố cười: “Chắc tôi nhìn nhầm.”
Hoài An không nói gì. Hắn đưa tay lau nhẹ mặt gương, sau đó đứng sát lại quan sát. Tôi biết vẻ mặt ấy của hắn, bởi mỗi khi hắn thật sự chú ý đến một chuyện gì, hắn sẽ không lập tức nói ra mà cứ im lặng suy nghĩ. Một lúc sau, hắn hỏi tôi: “Lúc nãy cậu thấy người đó làm gì?”
“Đứng ở cuối hành lang.”
“Nhìn về phía nào?”
“Tôi không biết. Hình như nhìn về phía này.”
“Có nhìn thấy mặt không?”
“Không.”
Hắn gật đầu, rồi lấy tấm vải đen phủ lại chiếc gương.
Tôi hỏi: “Sao phải phủ?”
“Để tối nay đừng ai nhìn thấy nó nữa.”
“Cậu nói vậy là sao?”
“Không sao.”
“Lại không sao?”
Hoài An nhìn tôi, vẻ mặt chẳng có chút gì thay đổi, chỉ nói: “Nếu thật sự có sao, cậu sẽ là người đầu tiên biết.” Tôi nghe xong chỉ muốn đá hắn một cái nhưng nghĩ lại thì thôi, dù sao từ lúc bước vào căn nhà này tôi đã bắt đầu có cảm giác bất cứ chuyện gì xảy ra cũng chẳng đến lượt mình quyết định.
Buổi chiều hôm đó chúng tôi ở lại nhà họ Thẩm. Thẩm Kính Sơn chuẩn bị cho mỗi người một căn phòng ở tầng trên nhưng vì căn nhà quá lớn nên hai phòng cách nhau khá xa. Tôi vốn định nghỉ một lát rồi tối cùng Hoài An hỏi thêm chuyện về chiếc gương nhưng sau khi nằm xuống chưa được bao lâu thì nghe thấy tiếng tỳ bà. Âm thanh rất nhỏ, từng tiếng một vang lên từ phía dưới, cách quãng, giống như có người đang thử dây đàn. Tôi nằm im nghe thêm một lúc, trong đầu còn tự tìm lý do để giải thích rằng có thể Tô Uyển đang nghe nhạc nhưng tiếng đàn ấy quá rõ, hơn nữa giữa những âm thanh rời rạc kia còn có một cảm giác rất kỳ lạ, cứ như người chơi đang ngồi ở một nơi rất gần mà lại bị ngăn cách bởi một lớp tường.
Cuối cùng tôi vẫn ngồi bật dậy, mở cửa phòng rồi đi xuống cầu thang. Hành lang lúc ấy không có ai, chỉ có ánh sáng mờ từ mấy chiếc đèn treo trên tường hắt xuống nền gỗ. Tôi đứng đó vài giây, nghe tiếng đàn vẫn đều đều vọng lên từ phía từ đường, rồi tự nhủ chắc Hoài An đang ở dưới nên mới lấy hết can đảm đi tiếp. Đến gần từ đường, tiếng đàn càng rõ hơn nhưng khi tới trước cửa tôi lại phát hiện cánh cửa vẫn đóng kín. Tôi gọi một tiếng: “Hoài An?” Bên trong không có tiếng trả lời. Tôi đứng ngoài cửa thêm vài giây rồi mới đưa tay đẩy vào.
Chiếc gương vẫn được phủ bằng tấm vải đen, mọi thứ trong phòng gần như không thay đổi so với lúc chiều. Điều kỳ lạ là ngay khi tôi bước vào, tiếng tỳ bà lập tức biến mất. Tôi đứng giữa căn phòng, trong lòng vừa nhẹ nhõm vừa thấy mình hơi ngốc, nghĩ bụng chắc mình nghe nhầm hoặc do mấy ngày nay ngủ không đủ nên đầu óc bắt đầu có vấn đề. Tôi đang định quay ra thì phía sau bỗng vang lên tiếng nước nhỏ xuống nền đá, từng tiếng rất chậm và rõ … tách … tách … tách …
Tôi quay lại.
Dưới chân chiếc gương có một vệt nước rất mảnh. Ban đầu tôi còn tưởng nước từ mái hiên chảy vào nhưng nhìn kỹ mới nhận ra nó kéo thành một đường dài trên nền, bắt đầu ngay sát chiếc gương rồi hướng thẳng ra hành lang dẫn về phía phòng ngủ của vợ chồng Thẩm Kính Sơn. Vệt nước không nhiều, chỉ đủ để lại những dấu loang nhỏ trên nền đá nhưng điều khiến tôi thấy lạnh người là nó hoàn toàn không giống nước mưa chảy vào từ bên ngoài, bởi phía trước chiếc gương không hề có cửa sổ hay chỗ nào có thể hắt nước vào. Tôi đứng nhìn vài giây, trong đầu thoáng qua một ý nghĩ rất vô lý rằng có người vừa bước ra từ phía sau tấm vải phủ nhưng ngay lập tức lại tự gạt đi. Tôi còn chưa kịp quyết định có nên gọi Hoài An hay không thì nghe phía sau lưng mình vang lên tiếng bước chân.
Tôi quay lại liền thấy Hoài An đang đứng ở cửa.
Hắn nhìn tôi rồi nhìn vệt nước trên nền. Tôi chưa kịp giải thích thì hắn đã đi tới, ngồi xổm xuống quan sát rất lâu, sau đó đưa tay chạm nhẹ lên nền đá. Tôi hỏi: “Cậu thấy gì?” Hắn không trả lời ngay, chỉ nhìn theo vệt nước kéo dài về phía hành lang rồi mới nói: “Đừng đi theo.” Tôi ngẩn ra: “Cái gì?” Hắn vẫn nhìn xuống nền: “Vệt nước.” Tôi hỏi tiếp: “Cậu nghĩ nó từ đâu tới?” Hoài An đứng dậy, ánh mắt chuyển sang chiếc gương đang phủ kín trước mặt chúng tôi rồi mới nói: “Không phải nước.”
Tôi còn chưa hiểu câu đó có nghĩa gì thì hắn đã đưa tay kéo tấm vải phủ xuống, che kín mặt gương hơn nữa. Nhưng ngay lúc mép vải vừa chạm vào khung đồng, từ phía bên trong bỗng vang lên một tiếng động rất nhẹ.
Cộc.
Tôi và Hoài An cùng khựng lại. Âm thanh ấy giống như có ai đó dùng đầu ngón tay gõ vào mặt đồng từ phía bên kia. Tôi nhìn hắn, hắn cũng nhìn tôi, không ai nói gì. Vài giây sau, tiếng động ấy lại vang lên một lần nữa, vẫn nhẹ nhưng rõ ràng hơn trước.
Cộc.
Hoài An không mở tấm vải ra nữa. Hắn chỉ kéo tôi ra khỏi căn phòng, đóng cửa từ đường rồi đứng ngoài hành lang rất lâu. Tôi thấp giọng hỏi: “Rốt cuộc cái gì ở trong đó?” Hắn nhìn tôi, sau một lúc mới nói: “Tôi chưa biết.” Tôi bật cười khô khốc: “Tôi biết ngay mà.” Hoài An không cười. Hắn vẫn nhìn về phía cuối hành lang, nơi vệt nước đã dừng lại trước cánh cửa phòng ngủ của Thẩm Kính Sơn. Trên nền đá, ngay giữa vệt nước ấy, có một dấu chân trần, chỉ một dấu duy nhất, giống như người nào đó vừa bước ra khỏi chiếc gương, đứng ở đó một lúc rồi biến mất.
Hoài An nhìn dấu chân rất lâu rồi mới nói: “Ngày mai tôi muốn xem gia phả nhà họ Thẩm.”
Tôi hỏi: “Tìm người phụ nữ kia?”
Hắn lắc đầu.
“Vậy tìm gì?”
Hoài An đưa mắt về phía cánh cửa phòng ngủ đang đóng kín trước mặt, giọng vẫn bình thản như thường ngày: “Tìm người mà nhà họ Thẩm đã không còn nhắc tới.”
Tối hôm ấy tôi nằm trong phòng mà không sao ngủ được. Ngoài cửa sổ mưa vẫn rơi đều, từng tiếng tí tách hòa vào tiếng nước chảy trong con kênh phía xa. Tôi cứ nghĩ mãi đến người phụ nữ trong gương, đến cây tỳ bà trong tay cô ta, đến dấu chân ướt trên nền đá và cả câu nói của Hoài An. Mãi gần sáng tôi mới mơ màng thiếp đi nhưng trước khi ngủ hẳn, tôi nghe thấy từ tầng dưới truyền lên một tiếng đàn rất khẽ.
Sáng hôm sau, khi tôi xuống lầu, chiếc gương vẫn nằm nguyên trong từ đường, tấm vải đen phủ kín như chưa từng xảy ra chuyện gì. Chỉ có điều trên mặt bàn bên cạnh gương xuất hiện một mảnh giấy mà tối qua tôi chắc chắn không nhìn thấy. Tôi cầm lên, trên giấy chỉ có một dòng chữ viết bằng mực đã nhòe.
Kính này không dùng để soi mặt.
Tôi đọc xong, trong lòng bỗng lạnh đi. Bởi lúc ấy tôi vẫn chưa biết, thứ đáng sợ nhất của chiếc gương ấy không phải là việc nó có thể cho người sống nhìn thấy người đã chết, mà là nó đang cố nhắc chúng tôi nhớ đến một người mà cả một gia đình đã cố tình quên đi.